Đồng tính có phải là bệnh không?

Ngày nay phương tiện thông tin đại chúng, báo chí, truyền hình…. thường xuyên nhắc tới những cụm từ như đồng tính, bệnh đồng tính, gay hay lesbian. Thậm chí có lúc nó như là một hiện tượng lạ trong xã hội, nóng lên bởi những thông tin người mẫu này chuyển giới, ca sỹ kia gay…. Hay rồi là sự đòi quyền được chấp nhận giới tính và kết hôn của người đồng tính. Vậy đồng tính có phải là bệnh và nguyên nhân của đồng tính là do đâu. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu để có cái nhìn chuẩn sát nhất về “bệnh” đồng tính.

Đồng tính có phải là một căn bệnh?

Đồng tính có phải là một căn bệnh?

Đồng tính có phải là một căn bệnh?

Trước năm 1994 trên thế giới người ta vẫn quan niệm rằng đồng tính là một căn bệnh thuộc nhóm bệnh lệch lạc giới tính và có liên quan đến các biểu hiện suy đồi đạo đức. Thậm chí một số quốc gia còn liệt đồng tính là một bệnh thuộc bệnh tâm thần và cần theo dõi sát xao. Từ sau năm 1994  các nhà khoa học đã nhận ra sai lầm của mình nên từ đó đồng tính luyến ái không bị coi là một căn bệnh nữa, không có tên trong danh sách  DSM ( Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders – của Hội Tâm thần Mỹ). Các nhà khoa học coi đây là một hiện tượng, không thể chữa khỏi và chỉ có thể hỗ trợ về mặt tâm lý.

Nguyên nhân gây ra đồng tính là gì?

Đây vẫn là một câu hỏi lớn còn bỏ ngỏ cho các nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu. Phần lớn các nhà khoa học cho rằng hiện tượng đồng tính sinh ra bởi nguyên nhân di truyền hay tác động của môi trường sống, xã hội.

Cho đến thời điểm này, không thể quy trọn vẹn hiện tượng đồng tính luyến ái cho nguyên nhân sinh học hay nguyên nhân tâm lý. Theo những nghiên cứu mới nhất, nhiều nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng, vùng đồ thị trên não của những người thuộc giới thứ 3 có sự khác biệt nhất định so với những người thuộc giới tính thứ nhất hay giới tính thứ 2. Rõ ràng, nguyên nhân sinh học có ảnh hưởng không nhỏ. Tuy vậy, chính môi trường gia đình, sự chăm sóc và cách giáo dục của bố mẹ và sự tương tác của cuộc sống xung quanh cũng là một yếu tố ảnh hưởng khá rõ đến biểu hiện của hiện tượng này.

Các kiểu của hiện tượng đồng tính

Đồng tính nữ hay còn gọi là lesbian

Đồng tính nữ hay còn gọi là lesbian

- Dị giới tính luyến ái (heterosexuality): Đó là đa số nhân loại. Nếu là nam, họ sẽ có cặp nhiễm sắc thể XY trong tế bào và chỉ yêu người khác phái, người có cặp nhiễm sắc thể XX.

- Đồng tính luyến ái (homosexuality): Về mặt sinh học, những người đồng tính luyến ái hoàn toàn bình thường. Nam giới bị “pêđê” không phải do thiếu nội tiết tố sinh dục nam testosterone, nên họ chẳng cần thử máu để biết nồng độ testosterone có bình thường hay không, và cũng chẳng cần phải điều trị họ bằng testosterone uống hay chích vì chỉ có hại mà thôi. Hiện nay, khoa học vẫn chưa giải thích được vì sao trung tâm não nhận diện đối tượng tình dục của những người này chỉ có hình ảnh của người cùng phái. Có phải do rối loạn nhiễm sắc thể hay không? Có phải do thiếu testosterone khi còn trong bào thai hay không? Chưa ai chứng minh được. Có một điều các nhà chuyên môn rõ nhất là nữ giới cũng có đồng tính luyến ái nhưng ít gặp hơn nam.

- Lưỡng tính luyến ái (bisexuality): Nhắc tới đồng tính luyến ái thì không thể không nhắc tới Alfred Kinsey, người đã đưa ra thang chia mức độ giới tính luyến ái, đi từ dị giới tính tới đồng tính luyến ái, mà nằm giữa hai thái cực là những người lưỡng tính luyến ái. May mắn hơn những người đồng tính luyến ái, những người lưỡng tính luyến ái vẫn có thể có chồng (vợ), có con nhưng vẫn có… bồ cùng giới. Có những người lưỡng tính luyến ái, sau một thời gian có vợ có con, lại hiểu ra mình chỉ có thể quan hệ đồng tính, nên đành “dứt áo” ra đi, bỏ vợ (chồng) bỏ con, đi theo một chàng (nàng) nào đó.

Dấu hiệu nhận biết đồng tính luyến ái

Không phải là bệnh nên hiện tượng đồng tính để nhận biết và xác định hết sức khó khăn và phân loại không dễ dàng. Và không phải ai cũng đủ can đảm để thừa nhận hay đi đi đến cơ sở ý tế để khám và xác định giới tính, do ở nước ta vẫn chưa công nhận giới tính thứ ba như các nước khác. Các phương pháp sau đây phần nào giúp chúng ta có thể nhận biết hiện tượng đồng tính:

- Kiểm tra ngoại hình: Với kỹ thuật hình ảnh như siêu âm và hoạt động thăm khám trực tiếp, bác sĩ tìm hiểu đường sinh dục, tuyến sinh dục để xác định giới tính cho bạn.

- Tiến hành các xét nghiệm di truyền học: Nhiễm sắc thể đồ (khảo sát bộ nhiễm sắc thể với tiêu chuẩn 46XX với nữ, 46XY với nam).

- Xét nghiệm xác định nồng độ trong máu của một loạt các hormone nam và nữ như FSH, LH, oestradiol, progesteron, prolactin, testosteron.

- Khảo sát tâm lý về mặt tính cách, tâm lý xã hội, sở thích, thói quen bằng trò chuyện với bệnh nhân; đồng thời tìm hiểu mong ước của người thân về giới tính của bạn.

- Hãy lắng nghe cảm xúc của mình, xem mình cảm thấy hạnh phúc và thoải mái với những thứ gì. Có thể sẽ mất một khoảng thời gian dài, và bản thân bạn cũng như những người xung quanh khó chấp nhận sự thật ấy. Nhưng đổi lại, bạn sẽ biết được mình thực sự là ai.

Có nên nói ra mình đồng tính và khi nào thì hợp lý?

Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào quyết định của bạn. Nhưng nhất thiết bạn nên chia sẻ cảm xúc của mình với người mà bạn tin cậy. Nếu bạn không muốn nói với cha mẹ thì có thể nói với một người bạn thân nào đó. Hãy tin rằng những người thân luôn ủng hộ bạn và luôn sắn sàng nghe bạn chia sẻ cảm xúc của mình.

Qua nhiều năm nghiên cứu, các nhà chuyên môn đã đi đến kết luận: có ít nhất 5% nhân loại phải chịu thiệt thòi vì không giống với 95% đa số kia. Và 5% nhân loại đó không phải ai xa lạ mà chính là bạn bè, anh em, con cháu của chúng ta. Vì vậy, họ cần nhận được sự đồng cảm hơn là sự dè bỉu.



Related Posts